1 tạ lúa xay ra bao nhiêu kg gạo? Cách tính

Với lúa khô vừa mới phơi xong, 100 kg lúa thường cho khoảng 60 đến 70 kg gạo trắng sau khi xay xát, tùy máy xát, giống lúa và tỷ lệ tấm. Gạo nguyên hạt thì ít hơn, phần còn lại là tấm, cám và trấu. Một tạ lúa (100 kg) vì vậy không ra 100 kg gạo; con số thực tế nằm trong khoảng đó nếu lúa khô đúng chuẩn.

Con số này là khoảng tham khảo, không phải định mức. Muốn tính sát cho từng mẻ, cần biết độ ẩm của lúa khi cân, và cân lại sau khi xay. Bài này trình bày cách tính, các yếu tố làm kết quả thay đổi, và cách đọc tỷ lệ khi mua bán.

Hạt lúa khô vàng trong rổ đan

Lúa gồm những gì

Một hạt lúa có vỏ trấu bọc ngoài, bên trong là hạt gạo lứt. Khi xay bỏ vỏ trấu, ta được gạo lứt. Khi xát tiếp để bỏ lớp cám và phôi, ta được gạo trắng.

  • Trấu: khoảng 20 phần trăm khối lượng lúa, tùy giống. Trấu dùng làm củi, làm chất đốt, làm phân hữu cơ, như trong bài sản xuất củi trấu ép.
  • Cám và phôi: khoảng 8 đến 10 phần trăm khối lượng lúa, tùy mức độ xát.
  • Gạo trắng: phần còn lại, gồm gạo nguyên hạt và tấm.

Tổng cộng, gạo trắng thường chiếm khoảng 60 đến 70 phần trăm khối lượng lúa khô. Phần hao hụt còn lại là bụi, hạt lép và sai số của máy.

Vỏ trấu và hạt gạo lứt đặt cạnh nhau

Độ ẩm làm lệch kết quả

Lúa vừa gặt xong có độ ẩm cao, thường trên 20 phần trăm. Nước trong hạt cũng là khối lượng, nên cân lúa ướt sẽ ra nhiều hơn lúa khô, và cho ra nhiều gạo hơn trên giấy. Vì vậy các kho và nhà máy thường quy đổi về độ ẩm chuẩn, phổ biến là 14 phần trăm.

Công thức quy đổi:

Khối lượng quy về 14% = Khối lượng thực tế × (100 − độ ẩm thực tế) ÷ (100 − 14)

Ví dụ: cân được 100 kg lúa có độ ẩm 22 phần trăm. Khối lượng quy về 14 phần trăm là:

100 × (100 − 22) ÷ (100 − 14) = 100 × 78 ÷ 86 ≈ 90,7 kg

Tức là 100 kg lúa ướt tương đương khoảng 90 kg lúa chuẩn. Nếu mua bán mà không quy đổi, bên bán và bên mua có thể tính lệch nhau đến mười mấy phần trăm.

Lúa phơi chưa đủ khô, chưa quy đổi, xay ra gạo dễ bị gãy, tỷ lệ tấm tăng. Lúa đã đạt 14 phần trăm nhưng để nơi ẩm lại hút ẩm trở lại. Quy trình sấy lúa tới độ ẩm này có trong bài sấy tháp lúa tươi về độ ẩm 14%.

Máy đo độ ẩm đặt trên đống lúa khô

Tỷ lệ tấm và tỷ lệ gạo nguyên

Tổng tỷ lệ gạo thu được chưa đủ để đánh giá. Điều người mua quan tâm hơn là phần gạo nguyên, tức hạt còn nguyên, và phần tấm, tức hạt gãy.

Chỉ tiêuÝ nghĩaẢnh hưởng đến giá
Tỷ lệ gạo trắng thu được (tổng)Lượng gạo cuối cùng từ mỗi tạ lúaQuyết định giá vốn của gạo
Tỷ lệ gạo nguyênHạt còn nguyên, nấu ra cơm đẹpThường cao giá hơn
Tỷ lệ tấmHạt gãy, nở nhanh, nấu dễ nhãoThường thấp giá hơn
Độ ẩm của gạoGạo ẩm dễ mốc, khối lượng ảoẢnh hưởng cả giá và chất lượng

Cách đọc tỷ lệ tấm trên bao gạo có trong bài cách đọc nhãn bao gạo. Tấm là gì và các loại tấm có trong bài tấm gạo là gì.

Gạo nguyên hạt và tấm đặt cạnh nhau

Tính sản lượng cho một mẻ xay

Giả sử một mẻ 1 tạ lúa khô, đã quy về 14 phần trăm, xay ra kết quả như sau. Đây là ví dụ để cách tính, không phải số liệu đo đạc:

BướcKhối lượng (kg)Ghi chú
Lúa khô đầu vào100Đã quy đổi về độ ẩm 14%
Trấu tách rakhoảng 20Tùy giống lúa
Gạo lứtkhoảng 80Đầu ra của máy xay trấu
Cám và phôikhoảng 8 đến 10Tùy độ xát
Gạo trắng thu đượckhoảng 62 đến 68Gồm gạo nguyên và tấm
Hao hụt, bụicòn lạiNên theo dõi để so máy

Để biết sát cho kho, cần có số thực tế từ mẻ của chính mình: cân lúa đầu vào, cân từng loại đầu ra, và ghi độ ẩm. Ghi trong vài mẻ là đủ để thấy tỷ lệ của máy và giống lúa đang dùng.

Cân gạo và sổ ghi tính toán

Lỗi hay gặp khi tính

  • Cân lúa ướt rồi coi là lúa khô. Luôn đo độ ẩm trước khi cân và quy đổi.
  • Lấy tỷ lệ của mẻ này áp cho mẻ khác. Giống lúa, mùa vụ, máy xát khác nhau thì tỷ lệ khác nhau.
  • Tính cả trấu và cám như gạo. Hai phần này có giá khác và có đường đi khác.
  • Quên hao hụt khi vận chuyển và bảo quản. Gạo để lâu hao nhẹ, bụi và mọt cũng làm giảm khối lượng.
Gạo trắng và trấu trên khay gỗ

Hỏi nhanh

1 tạ lúa ra bao nhiêu kg gạo ăn được?

Thường khoảng 60 đến 70 kg gạo trắng, tùy độ khô, giống và máy xát. Gạo nguyên hạt chiếm một phần trong đó; phần còn lại là tấm.

Vì sao có chỗ nói 1 tạ ra 65 kg, chỗ nói 70 kg?

Khác nhau ở độ khô quy đổi, độ xát và giống lúa. Lúa thơm thường có tỷ lệ thu hồi khác lúa thường. Cùng một loại, máy xát khác nhau cũng cho kết quả khác.

Lúa cần phơi tới độ ẩm bao nhiêu để xay?

Mức phổ biến để bảo quản và mua bán là khoảng 14 phần trăm. Phơi quá khô làm gãy hạt; chưa đủ khô thì dễ mốc và khó xay.

Trấu có bán được không?

Trấu có thể bán làm nhiên liệu, phân hữu cơ hoặc nguyên liệu cho một số ngành. Giá và nhu cầu thay đổi theo từng vùng, nên hỏi nơi thu mua trước khi tính vào doanh thu.

Tôi có thể tự tính tỷ lệ xay xát ở nhà không?

Có thể, nếu cân chính xác và làm đúng quy trình: cân lúa đã biết độ ẩm, xay bằng máy nhỏ, cân riêng từng phần đầu ra. Kết quả chỉ mang tính tham khảo cho nhà, không dùng để đối chiếu hợp đồng.